Pages

Subscribe:

Labels

Hiển thị các bài đăng có nhãn Phê bình. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Phê bình. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 23 tháng 10, 2014

CẢM NGHĨ KHI ĐỌC TẬP THƠ YÊU THƯƠNG VÀ GIA ĐÌNH.


                                                                                Bs. Phạm Bích Thủy.
                                                                     Giám đốc: Trường LĐXH Thanh xuân.

      Là chỗ thân tình tôi may mắn được nhà thơ Vũ Thịnh cho đọc những bài thơ trong tập thơ “ Yêu thương và gia đình” mà anh dự định cho in xuất bản để làm kỷ niệm cho gia đình, con cháu, bạn bè, người thân và đồng nghiệp.
      Đọc thơ của anh, tôi cảm nhận bao trùm cả tập thơ là lòng vị tha, tình yêu thương và tính quảng đại của một người đàn ông thành đạt  đối với người thân, gia đình và bè bạn. Với cách viết mộc mạc, từ ngữ giản dị trong sáng và có đôi chút triết lý làm cho thơ anh như là một tập chuyện ngắn, đó là những mạch hồi ức của anh đan xen giữa quá khứ và hiện tại, nối kết một cách tự nhiên giữa tình cảm gia đình, quê hương và bè bạn. Các bài anh viết tuy vào các thời điểm khác nhau, nhưng đều phác họa rõ nét nhất về ước vọng, niềm đam mê và những cung bậc tình cảm yêu thương mà anh dành cho những người thân yêu trong gia đình của mình; anh là một nhà thơ có tâm huyết, có nhiều kỷ niệm, tâm sự với người mình yêu quý, với người thân và quê hương…nên khi gặp là trở thành thân thiết, dễ cảm thông, dễ chia sẻ kể cả chuyện đời, chuyện nghề và chuyện thơ văn như trong bài “ Mừng con” anh viết:
                                       Bố không theo ngắm biển trời nữa
                                       Chuyển về đại học với bút nghiên
                                       Quyết tâm phấn đấu nay đạt được
                                       Hữu trí - Cánh thành với mẹ con!
                                                                         ( Mừng con)
       Có những bài thơ anh viết khi còn rất trẻ nhưng khi đọc tôi không thấy cái sự bồng bột, non nớt của tuổi mười bảy, mười tám “ Vô lo - vô nghĩ” như ông bà ta thường ví – mà các bài viết của anh đều thẫm đẫm tình yêu thương, sự trăn trở già dặn, chín chắn như của một người đàn ông từng trải và nhiều khát vọng.
                                             Anh mừng vui Thu vào đại học
                                             Hãy cùng nhau luyện trí thành tài
                                                                                           (Anh vẫn chờ)
       Các bài thơ anh viết đều toát nên cái thần thái vừa khảng khái hiên ngang, vừa chứa chan tình cảm lại vừa đậm nét hào hoa, duyên dáng, sự chân thành, thủy chung với người anh yêu, với bạn hữu, gia đình và con cháu; đặc biệt là sự độ lượng, bao dung với tuổi trẻ, sự đồng cảm với những con người, những số phận và những hoàn cảnh thực tại khác nhau được anh thể hiện trong những vần thơ của bài “ Tết con heo”:
                                            Tài lộc luôn thăm nhà đại phú
                                            Bần cùng sao cứ viếng kẻ nghèo?.
                                                                             ( Tết con heo)
      Đó chính là những đức tính cá biệt của anh mà tôi rất trân trọng. Đối với anh thơ vừa là nguồn cảm hứng, vừa là nơi mà anh giãi bày tâm sự. Anh đã tìm lại được sự thanh thản của tâm hồn trong thú vui thơ văn ngoạn cảnh và là nơi anh bày tỏ tình yêu thương với người thân, gia đình cùng các con, cháu, bè bạn và đồng nghiệp. Đặc biệt qua các bài thơ anh viết cho vợ và các con, các cháu cho thấy anh là một người rất trân trọng những giá trị gia đình, anh luôn giành sự yêu thương vô bờ bến , sự bao dung, che chở, chăm chút cho gia đình, người thân. Anh là một người cha mẫu mực, là người dẫn đường để con cái đi đúng hướng, anh đã dùng thơ để nói với con cháu mình những điều tâm huyết, đạo lý để con cháu vững bước vào đời.
                                              Con về bên ấy buổi đầu
                                        Thương con mới đến làm dâu ngỡ ngàng
                                     … .. Rời vòng tay của mẹ ôm
                                          Lan ơi con gắng học khôn dần dần
                                                                   ( Đi làm dâu)
      Thơ của anh viết về nhiều đề tài, trong đó nhiều bài anh viết về lòng yêu nước, yêu quê hương gắn bó với những người thân trong gia đình cũng như bạn bè và đồng nghiệp…; không những anh viết về sự phấn chấn, viên mãn của anh trước những bước tiến đi lên của con cháu; sự hào hứng với công việc chung của xã hội cũng như của gia đình; sự vui lo cùng mọi người trong suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước gian nan vất vả; sự hy sinh xương máu chính người thân của mình…mà còn thể hiện rõ nét cái tình người, tình bạn thủy chung tha thiết, sự yêu thương vô bờ bến mà anh đã bày tỏ trong tập thơ “ Yêu thương và gia đình”.
       Song có lẽ những bài thơ tự trào, tự sự của anh đã cho ta thấy rõ hơn tấm lòng của anh là bất kể hoàn cảnh nào cũng ung dung tự tại – Thật đúng với cái nghĩa “ Lạc đạo vong bần”; anh luôn tìm thấy niềm vui trong cái vui chung của đất nước, của mọi người, của gia đình, của người mình yêu quý mà coi nhẹ sự nghèo nàn, gian khó. Không phải là người bình luận về thơ, văn song qua tập thơ “ Yêu thương và gia đình” cho ta thấy anh là một người có tâm hồn lãng mạn, có tầm nhìn và hiểu biết sâu rộng, có tính sáng tạo – Tự tin – Thông minh – Quyết đoán…đó thật sự là những phẩm chất cao quý của một doanh nhân thành đạt.
                                 Trí lực cùng nhau mưu nghiệp lớn
                                  Làm hay – học giỏi luyện đức tài….
                          ….   Thế sự nhẹ tênh mùi danh lợi
                                  Nhân tình nặng trĩu nợ trăng hoa.
                                                                       ( Vẫn chưa già)
      Nhiều bài thơ, câu thơ anh viết về người cha, người mẹ, người anh trai đã hy sinh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc không những có giá trị văn chương làm đẹp tâm hồn người đọc mà còn có giá trị giáo dục con cháu lòng hiếu nghĩa đối với cha mẹ và người thân.     
                           Phận làm con:
                                        Đền ơn Cha – Ngàn năm hương khói
                                        Trả nghĩa mẹ - Muôn thủa phụng thờ !
                                                                      ( Nghĩ về chữ hiếu)
       Những lời bộc bạch trên đây là những cảm nhận và tấm lòng thành kính, ngưỡng mộ của tôi dành cho tập thơ “ Yêu thương và gia đình” của anh. Tập thơ này được in và phát hành sẽ không chỉ là một lưu niệm quý giá đối với gia đình mà còn là một bài giáo huấn sâu sắc và sinh động đối với các thế hệ con cháu trong gia đình anh mãi mãi sau này. Chúc anh và gia đình mạnh khỏe, hạnh phúc và thành đạt.
    

                                                                                                  Hải phòng – 2012.

CẢM TÁC VỀ BÀI THƠ HOÀNG SA – TRƯỜNG SA LÀ CỦA TA.


                                                 BS. Phạm Bích Thủy.
                                                      Giám đốc: Trường LĐXH thanh xuân

        Nhìn lại chặng đường lịch sử đã qua, trong 4000 năm dựng nước và giữ nước dân tộc ta đã phải chiến đấu chống giặc ngoại xâm gần như thường xuyên trong đó có hàng ngàn năm đấu tranh chống quân xâm lược phương bắc.  Để có độc lập, tự chủ ngày hôm nay - ông cha ta đã hy sinh biết bao xương máu, có thể nói mỗi tấc núi, thước sông của lãnh thổ Việt nam đều nhuộm đỏ máu xương của ông cha và người thân chúng ta, trong đó gần đây nhất là cuộc đấu tranh chống lại quân bành trướng Trung quốc ở biên giới phía bắc diễn ra năm 1979 và trận chiến ở Đảo Gạc ma thuộc quần đảo Hoàng xa năm 1988. Chính vì vậy mà tinh thần yêu nước đã ngấm sâu vào tư tưởng, tình cảm của mỗi người dân Việt nam. Tất cả người dân Việt nam đều yêu chuộng hòa bình và mong mỏi sự yên bình, nhưng không bao giờ chấp nhận khuất phục trước bất kỳ kẻ thù xâm lược nào dù chúng có mạnh đến đâu. Khi có nạn xâm lăng, tình yêu dân tộc của người dân Việt nam lại trỗi dậy mạnh mẽ, thể hiện ở tinh thần dám sả thân vì Nước, sẵn sàng đặt lợi ích Quốc gia dân tộc lên trên lợi ích riêng tư của bản thân.
       Trước việc Trung quốc hạ đặt trái phép giàn khoan HD - 981 trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt nam và có những hành động vô nhân đạo trên biển đông đã gây nên sự phẫn lộ sâu sắc đối với toàn thể nhân dân Việt nam và nhân dân trên thế giới. Lập trường hòa bình, cách thức sử lý vấn đề đang diễn ra trên biển đông của Việt nam thời gian qua đang được dư luận trong nước và Quốc tế đánh giá rất cao. Đó cũng là quyết sách phù hợp với tình hình hiện tại và đáp ứng nguyện vọng của mọi người dân, đặc biệt trong bài phát biểu của mình, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đã nhắc lại lời của Vua Lê Thánh Tông về “ Chủ quyền Đất Nước” và khẳng định “ Việt nam sẽ không chấp nhận bất cứ ai, bất cứ nước nào dù mạnh đến đâu bắt Việt nam phải nhường chủ quyền, lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc”: Đây có thể xem như là một lời cam kết của thế hệ người Việt nam hiện nay trước các vị tiền nhân; là một lời khẳng định của Lãnh đạo Đảng, Nhà nước trước toàn thể đồng bào; là một tuyên ngôn sâu sắc cho muôn đời con cháu.
       Là một nhà báo, nhà thơ - tác giả Vũ Thịnh nhận thức rất rõ tầm quan trọng, xứ mệnh của thơ ca và tính thời sự của vấn đề quần đảo Trường sa, Hoàng sa hiện nay. Trong bài “Trường sa, Hoàng sa là của ta” anh viết:
                              Dòng máu Việt – Đảo đá Gạc ma.
                              Hiến thân mình - Hóa đá Trường sa.
       Với những vần thơ mộc mạc nhưng lời lẽ đanh thép nhà thơ Vũ Thịnh đã ghi lại bằng cảm xúc văn học những nỗi đau, nỗi uất hận về biển đảo của Tổ quốc bị xâm chiếm. Đồng thời khơi dậy lòng tự hào dân tộc, mối căm thù giặc sâu sắc và tỏ rõ quan điểm, góp thêm tiếng nói để vạch trần âm mưu xâm lược, bản chất bá quyền phi lý, vô đạo của quân bành trướng Trung quốc, khảng định vị thế chính nghĩa của mình trong cuộc đấu tranh bảo vệ vùng biển của Tổ quốc.
                                 Hoàng sa, Trường sa là của ta
                                Lãnh hải – Chủ quyền lịch sử ca
                                Tàu khựa (*) điên cuồng, dàn khoan dựng
                               Cảnh sát, kiểm ngư… Quyết đuổi ra!
                                                              “Hoàng sa, Trường sa là của ta”
       Mỗi người dân Việt nam lúc này đều đang sôi sục căm thù trước những hành động xâm lược ngang ngược của Trung quốc. Nhưng chúng ta đang có trong tay vũ khí quan trọng nhất đó là: chính nghĩa, lòng tự tôn dân tộc và truyền thống anh dũng chống giặc ngoại xâm “ Giặc đến nhà đàn bà cũng đánh” thì chúng ta sẽ đánh thắng bất kỳ kẻ thù nào dù chúng mạnh đến đâu nếu chúng dám xâm phạm lãnh thổ Nước ta. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, toàn thể nhân dân Việt nam sẽ kiên quyết “ Không để một tấc đất, tấc biển nào của Tổ quốc bị xâm phạm”.
       Với trách nhiệm của người công dân yêu nước, mong rằng trong thời gian tới tác giả Vũ Thịnh không chỉ là một nhà báo, nhà thơ dùng ngòi bút để bộc lộ tấm lòng, tình cảm của mình đối với những lực lượng chấp pháp và ngư dân đang ngày đêm phải đối đầu với những hành động ngang ngược, coi thường luật pháp quốc tế của Trung quốc ở Biển đông, mà còn phải là một chiến sĩ luôn đứng ở vị trí mũi nhọn lấy thơ văn làm vũ khí để góp phần chấn hưng đạo đức cách mạng, khơi dậy lòng tự tôn dân tộc, mối căm thù giặc sâu sắc đúng như câu thơ Bác Hồ đã viết trong tập Nhật ký trong tù:
                         Nay ở trong thơ nên có thép
                         Nhà thơ cũng phải biết xung phong./.
                                                                                                    Hải phòng. 6/2014.

Ghi chú: (*) Trung quốc đắt trái phép giàn khoan 981 vào lãnh hải Việt nam.

UỐNG NƯỚC NHỚ NGUỒN.

                                 
                                                                    Bs. Phạm Bích Thủy.
                                                                        Giám đốc: Trường LĐXH Thanh xuân

      Hàng năm, cứ vào dịp tháng 7 mỗi người dân Việt nam lại vô cùng xúc động, tưởng nhớ đến các anh hùng liệt sĩ, các mẹ Việt nam anh hùng, các thương bệnh binh, người có công với cách mạng đã hy sinh xương máu của mình cho độc lập tự do của Tổ quốc; Đồng thời đây cũng là dịp để tôn vinh các giá trị truyền thống lịch sử cách mạng của dân tộc và bày tỏ sự sẻ chia sâu sắc đối với gia đình, thân nhân các liệt sĩ còn chưa tìm được hài cốt của con em mình.
       Mọi thế hệ người Việt nam đều hiểu: Cái giá của Độc lập tự do hôm nay đã phải trả bằng sinh mạng máu xương của hàng triệu liệt sĩ, hàng triệu thương bệnh binh và hàng ngàn người đang mang trong mình di chứng chất độc da cam… Chính họ đã làm rạng rỡ dân tộc, vẻ vang giống nòi. Chiến tranh đã đi qua nhưng nỗi đau mất con của các bậc cha mẹ, mất chồng của những người vợ, mất cha của những người con… là nỗi đau không thể nguôi ngoai và không gì bù đắp nổi. Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt nam mãi mãi ghi tạc và đời đời biết ơn sự hy sinh, cống hiến to lớn đó. Với truyền thống “ Uống nước nhớ nguồn” ngay từ những ngày đầu của cuộc kháng chiến chống Thực dân, Hồ Chủ Tịch đã Quyết định chọn ngày 27/7 hàng năm là ngày “ Thương binh toàn Quốc” sau được đổi là ngày “ Thương binh liệt sĩ” để toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ghi nhớ, tôn vinh công ơn các anh hùng liệt sĩ, thương bệnh binh và người có công với cách mạng. Kể từ đó, ngày 27/7 hàng năm đã trở thành ngày có ý nghĩa lịch sử, chính trị sâu sắc, mang đậm bản sắc văn hóa Việt nam.                                         
     Ghi nhận những hy sinh to lớn đó, nhiều năm qua Đảng, Chính phủ đã có những chính sách ưu đãi, những việc làm thiết thực giúp đỡ cả về vật chất lẫn tinh thần đối với thương bệnh binh, gia đình liệt sĩ, Mẹ Việt nam anh hùng, người có công với cách mạng… trong đó có chính sách hỗ trợ thân nhân thăm viếng mộ, tìm, quy tập và di chuyển hài cốt liệt sĩ đã thể hiện lòng tri ân tôn kính, sự biết ơn và ghi nhớ công lao to lớn của các anh hùng liệt sĩ, đồng thời cũng đáp ứng nguyện vọng, lòng mong mỏi của thân nhân, gia đình họ và góp phần giáo dục truyền thống cách mạng đối với các thế hệ đặc biệt là thế hệ trẻ.
        Vì vậy, ngay sau ngày giải phóng Đảng và chính phủ đã có chủ trương quy tập hài cốt liệt sĩ đưa về các nghĩa trang để chăm sóc, thờ cúng tri ân. Công việc đã được triển khai và đạt nhiều kết quả tốt, song do sự khắc nghiệt của chiến tranh và nhiều lý do khác mà cho tới nay hãy còn hàng vạn hài cốt chưa được quy tập, hàng trăm ngàn hài cốt liệt sĩ đã được quy tập vào các nghĩa trang Quốc gia nhưng lại yên nghỉ dưới những phần mộ “ Liệt sĩ chưa biết tên”.
       Từ xa xưa, người Việt nam luôn sống với tâm thức “ Sống ở, thác về”, nơi an nghỉ của người quá cố luôn tượng trưng cho những gì linh thiêng nhất và thường có sự liên quan siêu nhiên với số mệnh con cháu sau này. Cho nên, việc giữ gìn, chăm sóc phần mộ người đã khuất không chỉ là cách tỏ lòng thành kính mà còn chứa đựng cả một nền văn hóa tín ngưỡng, một giá trị nhân văn sâu sắc, một hệ thống lễ giáo chuẩn mực trong gia đình và dòng tộc. Chính vì thế, đối với các gia đình lệt sĩ thời gian trôi đi có thể làm vơi nỗi đau, mất mát nhưng thời gian cũng làm tăng thêm niềm day dứt không nguôi của những thân nhân liệt sĩ chưa tìm được hài cốt của con em mình.
       Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, nhà thơ Vũ Thịnh cũng có 2 anh trai xung phong đi chiến đấu và đã anh dũng hy sinh trên các chiến trường Miền nam đến nay vẫn chưa tìm được hài cốt. Với sự sót thương vô hạn, nỗi lòng trăn trở, xót xa, trong bài thơ “Tìm bóng hình anh” nhà thơ Vũ Thịnh đã viết:
                                                    Đã hơn bốn mươi năm
                                                    Cùng với đồng đội,
                                                    Nằm lại chiến trường
                                                   Có anh tôi ở đó…
                                                                        ( Tìm bóng hình anh)
        Mong muốn tìm được hài cốt của anh trai luôn đốt cháy tâm can tác giả, khi vào thăm các nghĩa trang Quốc gia như Thành cổ Quảng trị, nghĩa trang Trường sơn, nghĩa trang Đường 9…thấy trên nửa số mộ trong nghĩa trang mang bia “ Liệt sĩ chưa biết tên” trong số đó có rất nhiều ngôi mộ tập thể nhà thơ Vũ Thịnh đã vô cùng cảm động, anh viết:
                                        …   Trùng trùng rừng lá
                                              Bia mộ vô danh
                                             Cùng chung một hố
                                             Như tiểu đội xưa…
                                                               ( Tìm anh)
       Khi đi thắp hương, đứng trước hàng ngàn ngôi mộ liệt sĩ, tác giả như người mộng du, anh đến từng ngôi mộ, lần từng tấm bia với hy vọng thật mong manh là tìm thấy tên anh trai mình trong đó…nhưng anh đã phải đau sót thốt nên:
                             …   Nỗi khổ đau chất chồng trong trí nhớ
                                   Em tìm anh, sống gửi thác ở đâu!
                                                                                 ( Tìm anh)
      Với lời lẽ rất mộc mạc, chân tình các bài thơ đã ghi lại cảm xúc của tác giả đối với người thân, với các liệt sĩ trong những lần viếng thăm nghĩa trang hoặc vào các dịp kỷ niệm ngày “ Thương binh, liệt sĩ”;  câu thơ của anh như những lời tâm tình của người em đối với người anh trai đang ở chốn xa xôi; những lời thì thầm của tác giả gửi tới cõi tâm linh nơi có anh trai mình và các anh hùng liệt sĩ yên nghỉ với tâm nguyện các anh sẽ cảm nhận được những lời thiêng liêng đó.
                                                    Anh có thấu trăng
                                                    Nỗi đau trăn trở
                                                    Từ quê hương,
                                                    Mòn mỏi ngóng tìm anh!
                                                                   ( Tìm bóng hình anh)
         Những vần thơ thể hiện tấm lòng, nỗi nghẹn ngào của tác giả luôn khắc khoải mong ngóng từng ngày tìm được hài cốt của anh trai đã làm xúc động lòng người. Với lòng biết ơn vô hạn, tác giả Vũ Thịnh  đã viết bài thơ “ Nguyện cùng Người” như một nén  tâm hương mà tác giả thành tâm gửi tới anh linh  của anh trai mình và những người liệt sĩ anh hùng trên khắp mọi miền đất nước.
                                              Tâm nhang tưởng nhớ - Các anh ơi
                                              Tuổi xuân dâng hiến - Trọn nghĩa đời.
                                              Tạc dạ, ghi lòng – Ơn Liệt sĩ
                                              Ân đền - Nghĩa đáp – Nguyện cùng Người!.
        Giờ đây chiến tranh đã lùi vào dĩ vãng, tuy nhiều gia đình còn chưa tìm được hài cốt của thân nhân mình, nhưng xin các gia đình hãy yên lòng vì mỗi tấc đất của quê hương đều chứa đựng tâm hồn và thể xác của các anh – những anh hùng liệt sĩ đã hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc. Là nhà thơ, nhà báo lại có sự đồng cảm sâu sắc với thân nhân các anh hùng liệt sĩ đặc biệt là thân nhân những liệt sĩ chưa tìm được hài cốt con em mình mong rằng trong thời gian tới sẽ được đón đọc của nhà thơ Vũ Thịnh những bài thơ viết về đề tài người lính, anh bộ đội Cụ Hồ, các anh hùng liệt sĩ, thương bệnh binh, những hoạt động “ Đền ơn, đáp nghĩa” để thể hiện lòng biết ơn sâu sắc của nhân dân ta đối với người có công với cách mạng đồng thời góp phần giáo dục thế hệ trẻ truyền thống nhân nghĩa, đạo lý “ Uống nước nhớ nguồn” của dân tộc./.

                                                                                       HP, ngày 18/7/2014

Thứ Tư, 22 tháng 10, 2014

LỜI GIỚI THIỆU VỀ TẬP THƠ HƯƠNG QUYỆN

                                                                
                                                                            Bác sĩ: Phạm Bích Thủy
                                                                  Giám đốc: Trường LĐXH Thanh xuân.

        Là bạn tri kỷ nên tôi may mắn được nhà thơ Vũ Thịnh cho đọc những bài thơ mới sáng tác; những tập thơ anh đã xuất bản và cả những bài thơ trong tập thơ “Hương quyện” mà anh dự định cho in xuất bản để làm kỷ niệm cho gia đình, con cháu, bạn bè, người thân và đồng nghiệp. 
         Nhà thơ Vũ Thịnh xuất thân từ một gia đình nhà nho nên in sâu vào tâm hồn tác giả là tư tưởng nho giáo cùng với bề dày kiến thức đã giúp anh thăng hoa trong từng tác phẩm. Thơ của anh viết về nhiều đề tài nhưng tất cả đều mang đậm nét văn hóa phương đông với tính nhân văn sâu sắc. Anh đã cho xuất bản một số tập thơ đó là: Tình quê 1; Tình quê 2; Tình yêu; Yêu thương và gia đình; vọng mãi ngàn sau do nhà xuất bản Lao động phát hành… đều được người thân, gia đình, bạn bè đón đọc và rất trân trọng. Đối với anh – thơ không chỉ là phương tiện để chuyển tải thông tin, là cơ sở để khẳng định phong cách, trình độ, đẳng cấp của mình mà còn là nơi để anh được trải lòng, giãi bày tâm sự  và cũng là nơi để phản ánh những tư tưởng, cảm nhận, suy nghĩ, ý tưởng của anh về mọi mặt trong đời sống văn hóa, xã hội.
         Đọc các bài viết trong tập “ Hương quyện” mà anh chuẩn bị cho in, cảm nhận của tôi bao trùm cả tập thơ  đó là những mạch hồi ức của anh đan xen giữa quá khứ và hiện tại, nối kết một cách tự nhiên giữa tình cảm gia đình, quê hương, thiên nhiên đất nước và bè bạn - là sự tổng hòa của tính khoan dung, lòng nhân ái; ý thức trách nhiệm về gia đình, về cộng đồng, về dân tộc. Qua các bài thơ viết về quê hương cho thấy anh là người yêu những nét thuần Việt của làng quê Việt nam, cái mạnh trong các bài thơ viết về quê hương của anh là cảm xúc nồng ấm, giàu hình ảnh và hết sức giản dị, xúc tích. Anh thường giới thiệu về quê hương bằng những câu thơ chân chất, mộc mạc, bình dị nhưng khi đọc không ai là không thấy nao lòng như đó chính là quê hương của mình vậy, như trong bài “ Lâu rồi” anh viết:
                                                   Con đường rợp bóng hàng tre
                                                   Để tôi mê mải tìm về với em
                                                   Lối xưa dẫu đã thân quen
                                                   Chân tôi líu ríu như quên đường về !.
       Còn nếu lãng mạn là chất xúc tác, là gia vị của tình yêu thì thơ tình của anh là một nguồn cảm hứng vô tận. Các bài thơ tình được anh viết vào các thời điểm, không gian, thời gian, hoàn cảnh khác nhau nhưng luôn nồng nàn, sâu lắng, hồn nhiên, trong sáng và da diết… làm cho thơ anh không chỉ lãng mạn mà còn rất trữ tình. câu thơ của anh không những trẻ ở câu chữ, hiện đại ở ý tứ, hình ảnh mà bao giờ cũng chứa chan, dạt dào, sâu thẳm khiến người đọc xúc động, bâng khuâng như có cả hình ảnh của mình ở trong đó.
                                       …Tôi còn nhớ những chiều mưa
                                           Đầu trần hai đứa chạy đua trên đường
                                           Về nhà mẹ mắng … Anh thương
                                           Rủ em ra tận bờ mương khuyên nài !
                                                                                     ( Lâu rồi)
         Đặc biệt qua các bài thơ anh viết về gia đình và con cháu cho thấy anh là một người rất coi trọng những giá trị gia đình và dòng tộc, anh luôn tự hào và có đôi chút viên mãn khi viết về gia đình và dòng tộc của mình: đó là một gia đình – dòng tộc luôn giữ được nền nếp, gia phong; con cháu luôn giữ đạo Tổ hiếu, nhân nghĩa; một dòng tộc có truyền thống yêu nước nồng nàn với những công lao “ Mở đất lấn biển – dựng nghiệp” của ông cha; những hy sinh xương máu của các Bà mẹ Việt nam anh hùng, sự hy sinh anh dũng của những anh hùng Liệt sĩ vì độc lập tự do của Tổ quốc… Những giá trị đó không chỉ là điểm tựa yêu thương để mỗi thành viên trong gia đình – dòng tộc trưởng thành với nhân cách cao đẹp, lối sống văn minh, chân tình mà còn định hướng để con cháu Lập nghiệp - Luyện đức - Thành danh. 
        Tuy nhiên, sự độc đáo trong tập thơ “ Hương quyện” của nhà thơ Vũ Thịnh còn ở chỗ đó là tập thơ có giá trị về văn hóa tâm linh – tín ngưỡng, rất nhiều bài thơ của anh viết về các địa danh lịch sử; về các danh nhân văn hóa; về các Lễ hội, phong tục, tập quán văn hóa truyền thống… là những bài có giá trị văn hóa đầy bản sắc và lưu giữ những yếu tố tích cực góp phần xây dựng đạo đức lối sống cho con người Việt Nam như: coi trọng tình nghĩa, coi trọng các giá trị nhân bản của con người, có cách sống thiết thực, trách nhiệm, lạc quan. Các bài cảm tác của nhà thơ Vũ Thịnh về những lần đi thăm viếng các nghĩa trang liệt sĩ, các di tích lịch sử, đi vãng cảnh Đình – Chùa hoặc những lần tham dự các lễ hội Giỗ Tổ, lễ trồng cây Bồ đề… đều thể hiện sự trân trọng và biết ơn sâu sắc đối với Tổ tông như trong lần đi thăm Đền Hùng anh viết: 
                                              …Vua Hùng dựng Nước Lạc hồng
                                           Cháu con giữ Nước – Tổ tông lưu truyền
                                                  Nét xưa ơn nhớ phụng Thiên
                                          Lòng thành chiêm bái – Tâm uyên nguyện cầu !
                                                                                          ( Nhớ ngày giỗ Tổ)
       Mặc dù viết về văn hóa tâm linh – tín ngưỡng, nhưng các bài viết của nhà thơ Vũ Thịnh đều được chọn lọc, loại bỏ những yếu tố có màu sắc thần bí và mê tín dị đoan mà chỉ phản ánh những phần tinh túy, trong sáng về tâm linh – tín ngưỡng nên qua các bài viết đó, tác giả đã cho ta thấy hướng về văn hóa tâm linh, tín ngưỡng không chỉ là một nhu cầu, mà dường như còn là một cách giúp con người sống lương thiện hơn, vị tha và từ bi bác ái hơn; đồng thời cũng góp phần giáo dục truyền thống cách mạng đối với các thế hệ đặc biệt là thế hệ trẻ - đó thực sự là những nhân tố thúc đẩy sự phát triển bền vững xã hội của nước ta trong quá trình toàn cầu hóa hiện nay.    
                                                  Chữ Tâm sáng đẹp trên đầu
                                           Lòng thành con tới nguyện cầu Trạng Vương
                                                 Ngày xuân một nén Tâm hương
                                           Đức - Tài cầu tiến bốn phương bằng người
                                                                                          ( Tâm linh lời sấm)
      Đọc tập thơ “ Hương quyện” của nhà thơ Vũ Thịnh cảm thấy như chính mình cũng tìm được sự thanh thản trong tâm hồn, giải tỏa được những khúc triết trong đời sống để tự xây dựng cho bản thân một lối sống tinh thần hướng thiện, tốt đẹp và trách nhiệm, vị tha hơn. Mong rằng trong thời gian tới, mọi người lại được đón đọc những tác phẩm mới của nhà thơ Vũ Thịnh để được chiêm nghiệm, được nhẹ lòng và được tìm lại chính mình trong những vần thơ của anh.

                                                                                            Hải phòng – 09/2014.

Ý NGHĨA CỦA CÂY BỒ ĐỀ

                                                                 Bs. Phạm Bích Thủy
                                                                                                     Giám đốc: Trường LĐXH Thanh xuân
      Nhân đọc bài thơ Bồ đề sáng tỏa của nhà thơ Vũ Thịnh – Bích Thủy xin gửi tới anh bài viết về Ý nghĩa của Cây Bồ đề từ nơi đất Phật mà trong cuốn Phật học đã ghi nhé.
        Phật giáo là Tôn giáo có lịch sử cổ nhất trên thế giới. Trong bộ kinh Tôn giáo cổ  ở Ấn độ đã cho biết cây Bồ đề được kính trọng như một vật thiêng liêng ngay từ buổi bình minh lịch sử của nền văn minh Indus. Từ nhiều đời nay, cây Bồ đề là biểu tượng cho trí tuệ và sự giác ngộ của Đức Phật. Sự quan trọng của nó không chỉ nằm ở bản chất hùng vĩ của cây mà còn có ý nghĩa tượng trưng là sự kết hợp của sự chứng đạt vĩ đại nhất của Đức Phật - đó là sự giác ngộ tối thượng của ngài vì cây Bồ đề liên quan mật thiết đến sự kiện lịch sử về quá trình chứng đắc của Thái tử Tất - Đạt - Đa, Ngài ngồi thiền định 49 ngày dưới cội Bồ đề và trở thành một vị Phật. Vì vậy, cây Bồ đề từ một cây thông thường cũng được coi như biểu tượng của chính sự hiện diện của Đức Phật và sự chứng ngộ Phật quả.
         Cây Bồ đề mà Đức Thế Tôn ngồi thiền định thành Phật bây giờ không còn nữa, cây đã bị hủy diệt từ năm 1874. Khi cây gốc bị hủy diệt, một nhánh cây con mới mọc nên và đó chính là cây Bồ đề sum xuê tại chùa Đại Bồ đề ( Mahabodhi) được gọi là Bồ đề Đạo tràng ( Bodhgaya), thuộc Bang Bihar của Ấn độ ngày nay. Hiện nó là cây già nhất trong số các thực vật có hoa và có thể kiểm chứng được tuổi.
          Ý nghĩa của cây Bồ đề có tầm quan trọng rất lớn đối với người xuất gia cũng như tại gia. Khi nói đến hai chữ Bồ đề chúng ta hình dung được đây là một loại cây linh thiêng và cao quý nhất, có thể cảm nhận niềm Hỉ - Lạc vô biên khi ngồi dưới bóng cây Bồ đề, hơn nữa cây Bồ đề còn tượng trưng cho niềm tin vững chắc về sự Sinh tồn của Phật giáo cũng như sự Tín tâm của người Phật tử đối với ngôi Tam bảo. Cây Bồ đề chính là tâm Bồ đề, là bóng dâm che mát, là ánh sáng trí tuệ luôn soi sáng và tưới tẩm cho những ai đang khát khao tìm về cội nguồn an lạc; đó cũng là tuệ giác được nuôi dưỡng bằng mầm non Bồ đề trong từng Sát na của tâm thức.
       Theo quan niệm của Phật giáo, cây cối trồng trong Chùa thường rất có ý nghĩa về tâm linh, do đặc trưng khi bước vào không gian Chùa người ta có cảm giác mọi trần tục đều được gạt bỏ, dừng lại dành chỗ cho tâm tư trôi chảy thông linh với thế giới thoát tục và linh thiêng. Vì vậy, cây cối ở trong Chùa thường có ý nghĩa vượt ngoài kiếp sống bản nguyện – đặc biệt là cây Bồ đề, ngoài ý nghĩa linh thiêng còn là biểu tượng cho mục đích của các nhà tu hành và làm tĩnh tại tâm hồn của các phật tử. Việc trồng cây Bồ đề như là một đối thể thiêng liêng, trồng cây Bồ đề không khó nhưng trồng được cây Bồ đề trong tâm chúng ta gọi là Bồ đề tâm mới quý giá vô cùng. Tham dự lễ trồng cây Bồ đề còn giúp chúng ta tìm được sự thanh thản trong tâm hồn, giải tỏa được những khúc triết trong đời sống để tự xây dựng cho bản thân một lối sống tinh thần hướng thiện, tốt đẹp và trách nhiệm, vị tha hơn. Tôi và nhà Thơ Vũ Thịnh rất vinh dự đã được tham gia trồng 06 cây Bồ đề có nguồn gốc từ đất Phật về các Chùa ở Bắc ninh, Nam định, Hải phòng, Thái Bình và khu mộ của Bác Võ Văn Giáp do Hội kinh tế môi trường Việt nam tổ chức, sau mỗi lần tham dự trồng cây Bồ đề nhà thơ Vũ Thịnh đều viết những bài cảm tác để thể hiện tình cảm và sự tín tâm của mình đối với lễ hội trồng cây Bồ đề có nguồn gốc từ đất Phật như: khi tham dự lễ trồng cây Bồ đề có nguồn gốc từ đất Phật về cụm Di tích Chùa – Đình Tây ở xã Minh tân - Thủy nguyên – Hải phòng nhà thơ Vũ Thịnh đã viết:
                                Linh ứng Chùa Tây – Thật đẹp sang
                                Khai minh đất phật – Đức Tâm vàng
                                 Bồ Đề sáng tỏa – Đài sen ngự
                                Phúc ám – Dân an – Tựa núi Tràng (*)
                                                                        ( Bồ Đề sáng tỏa)
       Tham gia trồng cây Bồ đề giúp chúng ta tĩnh tâm hơn, luôn hướng  tới việc thiện, làm nhiều việc có ích và giành tình cảm cho nhau từ chính trái tim mình. Sự chân thành và hướng thiện là điều con người luôn mong mỏi ở chính bản thân mình và giữa mọi người với nhau – Hãy luôn giữ TÂM BỒ ĐỀ ở mọi lúc, mọi nơi: “ Để biết rõ những gì cần hiểu rõ – Để loại bỏ những gì cần phải bỏ - Để tập tu những gì cần tu tập”.
       Chính vì thế mà mỗi khi được tham dự lễ trồng cây Bồ đề có nguồn gốc từ đất Phật về chùa là cơ hội quý giá vô cùng, đây không những là cơ hội để mọi người thể hiện sự tín tâm của mình đối với Đức Phật mà còn làm tĩnh tại tâm hồn của các phật tử. Nên việc tham gia trồng cây Bồ đề tại Chùa làm cho mọi người thấy thâm tâm mình thanh tịnh hơn, mọi phiền não, bực tức, khó chịu, oán hờn đều tan biến, tâm hồn thanh thản và công việc được suôn sẻ, thuận lợi hơn.
                                                                                           Hải phòng - 5/2014